Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG



A. Lịch sử hình thành
Ngày 30/3/2006 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 486/QĐ-TTg về việc thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế với tiền thân ban đầu là Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai. 
B. Chức năng nhiệm vụ
1. Viện Da liễu Quốc gia là Viện chuyên khoa đầu ngành về Phong - Da liễu có chức năng
2. Viện Da liễu Quốc gia có các nhiệm vụ:
a) Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu:
b) Đào tạo cán bộ
c) Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng
d) Chỉ đạo tuyến
e) Hợp tác quốc tế
C. Hệ thống tổ chức của Viện Da liễu hiện nay gồm khối các khoa phòng chức năng, các khoa lâm sàng và các khoa cận lâm sàng
1. Các phòng chức năng
a. Phòng tổ chức hành chính
b. Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học
c. Phòng hợp tác quốc tế
d. Phòng chỉ đạo ngành
- Xưởng giày dép chỉnh hình
e. Phòng tài chính kế toán
f. Phòng kế hoạch tổng hợp – quản trị - vật tư và thiết bị y tế
g. Phòng y tế cơ quan
2. Các khoa lâm sàng
a. Khoa khám bệnh
b. Khoa điều trị bệnh phong và laser – phẫu thuật
i. Bệnh nhân phong nội trú
ii. Vật lý trị liệu, UVA - UVB
iii. Laser
iv. Phẫu thuật
v. Chăm sóc da thẩm mỹ
c. Khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em
d. Khoa điều trị bệnh da nam giới
3. Các khoa cận lâm sàng
a. Khoa dược
b. Khoa xét nghiệm
i. Phòng vi sinh – nấm
ii. Phòng giải phẫu bệnh
iii. Phòng huyết thanh
iv. Phòng sinh hóa – huyết học
v. Phòng miễn dịch
Ngoài ra, Viện còn có:
- Đảng bộ
- Công đoàn
- Chi đoàn
- Bộ môn Da liễu trường Đại học Y Hà Nội
- Hội đồng thi đua khen thưởng
- Hội đồng bảo hộ lao động
- Hội động khoa học kỹ thuật
- Hội đồng lương
- Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
D. Thành quả đạt được
Từ khi thành lập Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai cho tới nay là Viện Da liễu Quốc gia, Viện đã thực hiện và chỉ đạo được một số công việc nổi bật sau:
1. Xây dựng màng lưới chuyên khoa: Cho tới nay 100% các tỉnh/thành (64/64) trong cả nước đều đã có cơ sở chuyên khoa Da liễu. Tuỳ theo điều kiện cụ thể về tổ chức biên chế cán bộ, theo địa dư và theo phương pháp quản lý của từng địa phương mà các cơ sở Da liễu ở từng địa phương mang những tên gọi khác nhau (Bệnh viện Da liễu; Bệnh viện Phong và Da liễu; Trung tâm Da liễu; Trạm Da liễu; tổ Da liễu nằm trong Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Y tế dự phòng, Trạm Da liễu), nhưng chức năng, nhiệm vụ công tác và mục tiêu hoạt động chuyên khoa đều thống nhất.
2. Hợp tác quốc tế:
Từ những năm đầu tiên, khi mới về tiếp quản khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai, Khoa đã nhận được sự giúp đỡ và hợp tác nghiên cứu khoa học của các nước xã hội chủ nghĩa :
- Năm 1957-1958 : Đoàn chuyên gia Liên Xô (cũ) sang giúp ta phát hiện các bệnh hoa liễu ở Tây Bắc, Phát Diệm Ninh Bình và một vài thành phố và thị xã trên miền Bắc. Ŀồng thời chi viện cho chúng ta nhiều thuốc men và hoá chất phục vụ công tác này.
- Từ năm 1959-1962 :
 Bác sĩ Vulcan, chuyên gia Rumani sang hợp tác cùng Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai khám phát hiện và điều trị bệnh phong taị huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, huyện Vĩnh Tương tỉnh Vĩnh Phúc.
+
 Các chuyên gia : Kudela (Tiệp Khắc), Stoyanov Nitov (Bungari), Giáo sư Volgan Hofs (Cộng hoà Dân chủ Ŀức) sang hợp tác nghiên cứu khoa học và giúp chúng ta chống các bệnh Da liễu.
+
- Sau này, khi đất nước còn bị cấm vận, từ những năm 1977-1978, ngành Da liễu đã tạo được những mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển với nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) ở các nước như : Hà Lan, Nhật Bản, Bỉ, Anh, ĐĿức, Pháp, ý, Thuỵ Sĩ..., Tổ chức Y tế Thế giới (WHOs)... Mỗi tổ chức giúp chúng ta một vùng, gồm từ 1-2 ; 4-5 ; rồi 10 đến 12 tỉnh/thành phố, với đề án hợp tác, viện trợ thuốc men, phương tiện giao thông (ô tô, xe máy, xe đạp...), tài liệu sách vở, kinh phí đào tạo cán bộ, giáo dục y tế, phục hồi chức năng, dạy nghề... và gửi cán bộ đi học tập, tham gia, dự hội nghị quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao trình độ và uy tín của Ngành Da liễu, Viện Da liễu trên trường quốc tế.
- Từ 1992 đến nay: 100% các tỉnh, thành có dự án hợp tác về công tác phòng chống Phong với các tổ chức quốc tế như: WHO, các Hội chống Phong các nước Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật, Nauy... Hàng năm, có hàng chục đoàn khách quốc tế và chuyên gia vào làm việc với Viện Da liễu. Viện đã hoàn thành kịp thời thủ tục phê duyệt dự án, chuyển kinh phí cho địa phương hoạt động và quyết toán với phía bạn, duy trì được các nguồn viện trợ hàng năm của các tổ chức gồm nhiều tỷ đồng. Nhiều đề án đặc biệt đã được thực hiện như với WHO là đề án Giám sát sau loại trừ bệnh Phong, tổ chức các lớp may, sửa chữa xe máy, học lái xe, nghề mộc... cho bệnh nhân phong và con em của họ.
- Từ 2000 đến nay, ngoài hợp tác phòng chống phong, Viện Da liễu và các tổ chức quốc tế đã mở rộng thêm hợp tác trong lĩnh vực bệnh ngoài da và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là xây dựng được một đề án ủng hộ, trợ cấp miễn phí tiền ăn, tiền xét nghiệm cho bệnh nhân Phong và một số bệnh nhân điều trị nội trú bệnh da có hoàn cảnh khó khăn tại Viện (đề án Thuỵ sỹ). Một số cán bộ của Viện đã được tổ chức Y tế thế giới mời đi làm cố vấn tại các nước trong khu vực. Viện đã mở nhiều hội nghị quốc tế và mời các chuyên gia đầu ngành nước ngoài đến Viện để giảng dạy, hội chẩn trao đổi kinh nghiệm, tăng uy tín của Viện và ngành Da liễu Việt Nam trên trường quốc tế.
3. Thành tựu bước đầu trong công cuộc chống bệnh phong :
- Từ chỗ những năm trước đây ta chỉ có điều kiện điều trị bệnh phong bằng DDS đơn thuần (đơn hoá trị liệu). Từ sau ngày thống nhất đất nước, Ngành Da liễu nắm bắt được kịp thời những thông tin mới trên Thế giới về kỹ thuật, chẩn đoán, phân loại và điều trị bệnh phong từ năm 1983 đến nay. Ngành Da liễu đã chuyển sang dùng hoá trị liệu phối hợp (đa hoá trị liệu), giúp hiệu quả trị bệnh tăng nhanh gấp bội, nhanh chóng cắt được nguồn lây, hạn chế tàn tật trên bệnh nhân phong và đề phòng vi khuẩn phong kháng thuốc. Tỷ lệ bệnh nhân bị tái phát rất thấp. Chỉ mới tính đến năm 1994, sau 10 năm thực hiện Đa hoá trị liệu (ĐHTL-MDT), tổng số bệnh nhân đã hoàn thành đa hoá trị liệu và đã được khỏi bệnh là 80.000 người / trên cả nước.
- Trong công trình nghiên cứu dài hạn nhằm rút ngắn thời gian chữa khỏi bệnh phong hơn nữa bằng Ofloxacin của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đã được chọn là một trong 7 Trung tâm lớn của toàn thế giới tham gia đề tài này.
- Năm 1994, Thủ đô Hà Nội đã được chọn để đăng cai việc tổ chức một Hội nghị Quốc tế quan trọng bàn về việc khống chế và tiến tới thanh toán bệnh phong trên toàn cầu. Đã có hơn 150 đại biểu, các nhà khoa học về bệnh phong, 47 Bộ trưởng Bộ Y tế các nước sang Việt Nam cùng tham gia. Hội nghị đã ra được bản “Tuyên ngôn Hà Nội” khuyến cáo mọi quốc gia phấn đấu sớm loại trừ bệnh phong ra khỏii Y tế cộng đồng, đạt được như lời kêu gọi của Đại hội Y tế Thế giới tổ chức tại Genève năm 1991 là Hãy loại trừ bệnh phong ra khỏi nền y tế cộng đồng trên toàn thế giới vào năm 2000.
- Từ năm 1995 : Chương trình phòng chống bệnh phong của Ngành Da liễu đã được Nhà nước nâng lên thành chương trình quốc gia.
- Từ năm 1995-2006 :
 Thực hiện chương trình y tế quốc gia về phòng chống bệnh Phong. Đã thực hiện thành công “Loại trừ bệnh Phong theo tiêu chuẩn WHO” vào năm 2000.
+
 Tính đến hết năm 2006, có 37 tỉnh, thành trong cả nước đạt được loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam do Bộ Y tế ban hành năm 2002. (Tiêu chuẩn này cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới).
+
- Hàng năm giám sát hoạt động chống Phong của các tỉnh trong toàn quốc.
- Chỉ đạo và thực hiện chương trình phòng chống tàn tật cho bệnh nhân Phong.
- Thực hiện dự án hợp tác giữa phòng Chỉ đạo ngành với các Hội chống Phong Hà Lan (NLR), Bỉ, Đức.
- Mở nhiều lớp tập huấn về chăm sóc bàn tay, bàn chân mất cảm giác, phòng tránh thương tích ở mắt bệnh nhân Phong cho cán bộ chuyên môn của các khu điều trị Phong và cán bộ làm công tác chống Phong.
- Tập huấn nâng cao kiến thức về bệnh Phong cho cán bộ chuyên khoa tuyến huyện tại các tỉnh trong cả nước.
- Tập huấn cho cán bộ chống phong tuyến tỉnh về chiến lược lồng ghép trong hoạt động chống phong giai đoạn mới.
- Xây dựng các tài liệu và biểu mẫu theo dõi tàn tật cho bệnh nhân Phong, mẫu Báo cáo tình hình hoạt động da liễu hàng năm, bệnh án bệnh nhân Phong, sửa mẫu M2, M3 cho phù hợp với tình hình thực tế.
- Hoàn thiện văn bản dưới luật hướng dẫn tổ chức công nhận loại trừ bệnh Phong theo 4 tiêu chuẩn của Việt Nam.
- Phân phối thuốc chống Phong, thuốc bôi ngoài da phục vụ công tác khám phát hiện bệnh Phong cho các tỉnh/thành trong cả nước.
- Giáo dục y tế toàn dân và tập huấn cho cán bộ y tế những kiến thức cơ bản về bệnh Phong ở những xã trọng điểm (xã có nhiều bệnh nhân Phong mới).
- Hàng năm tổ chức giao ban 4 phòng Chỉ đạo ngành: Viện Da liễu Quốc gia, Bệnh viện Da liễu Tp Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hoà; Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quỳnh Lập.
- Phân vùng dịch tễ bệnh Phong.
4. Hoạt động phòng chống bệnh LTQĐTD:
- Là tiểu ban Da liễu thuộc Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế, Viện đã xây dựng Chương trình hành động phòng, chống các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010 trong khuôn khổ chương trình Y tế quốc gia phòng chống HIV/AIDS.
- Hàng năm tập huấn cho các giảng viên tuyến tỉnh về quản lí, giám sát và điều trị các nhiễm khuẩn LTQĐTD. Giám sát thương qui các bệnh LTQĐTD tại các tỉnh theo qui định của Bộ Y tế.
- Hoàn thành bộ tài liệu giảng dạy chuẩn quốc gia về quản lý bệnh LTQĐTD, các nhiễm khuẩn đường sinh sản cho chương trình chăm sóc sức khoẻ đường sinh sản của Bộ Y tế để thực hiện đào tạo trong hệ sản phụ khoa ở tuyến quận, huyện và xã, phường.
- Hoàn thành tài liệu giảng dạy cho các giảng viên tuyến tỉnh về quản lý, giám sát và điều trị các nhiễm khuẩn LTQĐTD trong dự án ADB. Hoàn thành hướng dẫn quản lý các bệnh LTQĐTD trong dự án “Cộng đồng phòng chống AIDS” tài trợ của Quĩ xoá đói giảm nghèo Nhật bản thông qua Ngân hàng phát triển châu á do Ban PC AIDS chủ trì. Lập kế hoạch và thực hiện phòng chống LTQĐTD với các tổ chức quốc tế: FHI, CDC, WHO, DFID.
- Tham gia biên soạn tài liệu về chuẩn quốc gia điều trị nhiễm trùng cơ hội trong HIV/AIDS.
- Xây dựng quyển Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục
5. Công tác xuất bản và tuyên truyền, giáo dục y tế chuyên ngành:
- Cuốn Nội san Da liễu được ra đời sớm nhất từ tháng 10/1950 và liên tục cho tới nay, cùng với cuốn Thông tin Da liễu được Tổng hội Y học Việt Nam xuất bản đều đặn trong mấy thập kỷ qua, đã góp phần không nhỏ vào công tác “đào tạo liên tục” trong đông đảo cán bộ chuyên khoa Da liễu.
- Những sách chuyên đề về phổ biến khoa học đã được xuất bản với số bản tương đối nhiều như: “Một số kiến thức hiện đại về bệnh phong”, “Bệnh phong đầu phải nan y (Diễn Ca)”; “Tìm hiểu về bệnh Giang mai”, “Atlas bệnh lây truyền qua đường tình dục”, “Da tóc thường mắc những bệnh gì ?”; “Những bệnh nấm da thường gặp”, “Bệnh vảy nến”, “Những bệnh da có mủ”, “Bệnh da nghề nghiệp”, “Phục hồi chức năng trong bệnh phong” v.v... Mỗi đầu sách đã được Nhà xuất bản Y học in với chỉ số hàng ngàn cuốn và bán rộng rãi trong dân. Hàng chục bộ phim được ra đời kể cả phim truyện và phim đèn chiếu với những nội dung thiết thực nhằm giáo dục y tế về bệnh phong và hoa liễu cho nhân dân: (Ví dụ một vài tên phim có nhan đề: “Đâu phải nan y”; “Vẫn có ngày mai”, “Nga Sơn Thanh Hoá bệnh phong”, “Bản tình ca” nói về bệnh phong. Còn bộ phim “Trót dại” thì nói về bệnh hoa liễu, với hàng trăm bản đã được phát ra kèm theo hàng chục máy chiếu phim lưu động trên những địa bàn xa xôi hẻo lánh.

BỆNH VỀ DA



Dân gian có câu “...nhất dáng, nhì da,..” như muốn nói khéo về thứ bậc nét đẹp của người phụ nữ. Tuy nhiên về bệnh lý thì da không thể xếp hàng thứ hai nhưng thực ra các bệnh ngoài dacũng có thể đe dọa đến tính mạng con người.
Da là một cơ quan có cấu trúc tinh vi gồm nhiều lớp, nhiều loại tế bào, có nhiệm vụ khác nhau, với một mạng lưới thần kinh, mạch máu, bạch huyết dày đặc gắn liền da với toàn bộ cơ thể bên trong. Da đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như bảo vệ khỏi các tác nhân độc hại cho cơ thể (chấn thương, hóa chất, tia xạ, vi sinh vật gây bệnh,...), cảm giác, điều hòa, chuyển hóa, miễn dịch,…

Cần đến ngay cơ sở y tế khi phát hiện có những dấu hiệu bất thường về da
Trên thực tế cho thấy các biến đổi, tổn thương nội tạng được phản ảnh rất sớm trên da như: bệnh gan gây vàng da, vàng mắt; lao thận gây sạm da và niêm mạc; táo bón, giun sán gây sẩn ngứa; tăng đường huyết làm nổi nhiều đinh nhọt; thiếu vitamin A làm da khô, nứt nẻ... Ngược lại, các bệnh da sớm muộn cũng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Ví dụ: hội chứng viêm da, bệnh viêm da mủ, ghẻ, eczema nhiễm khuẩn có thể tiến triển gây viêm cầu thận cấp, nhiễm khuẩn máu dẫn tới tử vong. Các bệnh ngứa mạn tính như sẩn ngứa, mày đay, viêm da thần kinh lâu ngày mất ngủ dẫn tới suy nhược thần kinh. Một số bệnh như nhiễm độc dị ứng, đỏ da, viêm da, khớp, viêm da mủ có biến chứng, vảy nến, lupus, pemphigut, phong thể nhiều vi khuẩn, giang mai nặng,... có thể dẫn tới tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Bệnh đại đa số tiến triển mạn tính, hay tái phát, nhiều khi phải dùng tới thuốc đặc hiệu đắt tiền nên gây tốn kém không nhỏ.
Bệnh ngoài da hầu như xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào mùa nắng nóng, mùa đông nhiệt độ thấp, độ ẩm thay đổi kèm theo mưa gió thất thường – là điều kiện thuận lợi không những cho nhiều bệnh lý về đường hô hấp xuất hiện mà còn làm phát triển các bệnh ngoài da như nứt môi, khô da mặt, nổi mề đay, nứt gót chân, vảy cá,... Hay vào mùa mưa, nước có thể ngập úng một số nơi, bà con nông dân, công nhân vệ sinh, người nội trợ, người giúp việc,... do thường xuyên phải tiếp xúc với nước, nhất là ngâm chân lâu trong nước bẩn, điều kiện vệ sinh kém là điều kiện cho một số bệnh ngoài da phát triển như nấm, ghẻ, viêm da, nhiễm ký sinh trùng trên da. Bệnh viêm da mủ, viêm nang lông, bệnh viêm kẽ do vi khuẩn (erythrasma), bệnh tiêu sừng lõm lòng bàn chân (pitted keratolysis), bệnh da do ký sinh trùng,... nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời sẽ có biến chứng nhiễm khuẩn thành những mụn mủ eczema hóa rất khó chữa trị và lây lan ra cộng đồng rất nhanh. Khi cơ thể yếu, sức đề kháng kém, lao động nặng nhọc, ra mồ hôi nhiều, da bị xướt do gãi, thì tụ cầu, liên cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào cơ thể, gây hoại tử lỗ chân lông, tạo ra mụn nhọt. Một số loại mụn nhọt thường gặp như: đinh râu, hậu bối (bệnh than ngoài da), nhọt vùng hậu môn, chốc lở, lẹo,...
Bệnh ngoài da có nhiều loại khác nhau, có loại biết được căn nguyên nhưng có những loại bệnh chưa xác định được căn nguyên. Bệnh ngoài da phần nhiều là bệnh lành tính, nhưng một khi mắc bệnh làm cho người bệnh có cảm giác khó chịu, thiếu tự tin khi xuất hiện nơi đông người. Việc phòng bệnh cho da nói chung là cần vệ sinh da sạch sẽ hằng ngày như tắm, gội. Mỗi lứa tuổi cũng có các biện pháp vệ sinh da khác nhau. Không mặc quần áo chung, không dùng khăn chung và khi biết người có bệnh về da có khả năng lây cho người khác thì không nên nằm chung giường, chiếu, đắp chung chăn. Khi tiếp xúc với môi trường có nhiều chất độc hại phải đeo khẩu trang và mặc quần áo bảo hộ lao động. Hạn chế tiếp xúc đồ vật hoặc tránh ăn những thức ăn mà cơ địa bị dị ứng. Môi trường sống cần trong sạch, ít bụi. Cần thường xuyên rèn luyện thân thể, ăn uống đủ chất để nâng cao sức đề kháng. Không gãi và nặn mụn nhọt, nhất là đinh râu, vì nặn làm tổn thương tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây nhiễm khuẩn huyết.
Do vậy, nếu thấy có những dấu hiệu bất thường về da, hoặc nghi ngờ bị bệnh về da nên đi khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để phát hiện sớm, điều trị đúng và khi đó bác sĩ sẽ hướng dẫn phương pháp phòng ngừa thích hợp cho từng người; không tự ý dùng thuốc vì có thể gây tai biến, tiền mất tật mang.

VIÊM KHỚP VẨY NẾN LÀ GÌ?



Viêm khớp vảy nến là tình trạng viêm các khớp xảy ra ở trẻ em và người lớn bị bệnh vảy nến. Vảy nến là một bệnh da liễu gây ra những mảng da dày và đỏ ở nhiều vùng trên cơ thể. Không phải ai bị vảy nến cũng bị viêm khớp vảy nến, nhưng tất cả những người bị viêm khớp vảy nến đều bị vảy nến.
Dấu hiệu và triệu chứng
Viêm khớp vảy nên có thể xảy ra ở một hoặc nhiều khớp. Các dấu hiệu và triệu chứng cơ bản của viêm khớp vảy nến là khớp sưng, nóng, đỏ và đau xảy ra trên người đã có chẩn đoán bị bệnh vảy nến.
Các kiểu đau khớp trong viêm khớp vảy nến:
  • Đau khớp ở một bên cơ thể: Chỉ ảnh hưởng đến các khớp ở một bên của cơ thể hoặc các khớp khác nhau ở mỗi bên – bao gồm khớp háng, khớp gối, cổ chân hoặc cổ tay. Sưng và viêm có thể làm cho đầu ngón chân ngón tay có hình dùi trống.
  • Đau khớp ở cả hai bên cơ thể: Viêm khớp vảy nến đối xứng thường tác động đến 4 hoặc nhiều khớp cùng tên ở cả hai bên. Hay gặp ở phụ nữ hơn ở nam giới và bệnh vảy nến thường nặng hơn.
  • Đau các khớp ngón tay: Viêm khớp vảy nến chủ yếu gây đau các khớp liên đốt xa ít gặp và thường xảy ra ở nam giới.
  • Đau cột sống: Viêm cột sống vảy nến có thể gây cứng và viêm ở cột sống cổ, thắt lưng hoặc khớp cùng chậu. Viêm cũng có thể xảy ra ở gân và dây chằng ở cột sống.
  • Viêm khớp phá huỷ: Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân viêm khớp vảy nến bị viêm khớp biến dạng,. Bệnh phá huỷ các xương nhỏ ở bàn tay, nấht là ngòn tay, dẫn đến biến dạng và tàn phế vĩnh viễn.
Nguyên nhân
Bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến là những bệnh tự miễn trong đó đáp ứng miễn dịch bất thường gây viêm khớp cũng như gây tăng sinh tế bào da. Chưa rõ lý do tại sao hệ miễn dịch lại có đáp ứng như vậy, nhưng có vẻ như cả yếu tố môi trường và di truyền đều có vai trò. Chấn thương hoặc nhiễm trùng có thể gây viêm khớp vảy nến ở những người đã có sẵn cơ địa di truyền dễ bị bệnh.
Xét nghiệm và chẩn đoán
  • X quang: giúp phát hiện những thay đổi ở khớp không xảy ra trong những bệnh khác.
  • Xét nghiệm dịch khớp: Có tinh thể acid uric trong dịch khớp cho thấy bệnh nhân bị bệnh gút chứ không phải viêm khớp vảy nến.
  • Tốc độ máu lắng: Tốc độ máu lắng tăng báo hiệu tình trạng viêm.
  • Yếu tố thấp (RF): Là một kahgns thể thường có trong máu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nhưng không có trong viêm khớp vảy nến.
Điều trị
Thuốc
  • Thuốc chống viêm phi steroid.
  • Corticosteroid .
  • Thuốc chống thấp có tác dụng biến đổi bệnh (DMARD) như sulfasalazine, hydroxychloroquine và methotrexate.
  • Thuốc ức chế miễn dịch
  • Chất ức chế TNF-alpha như etanercept, adalimumab và infliximab.
Phẫu thuật: để giảm đau và phục hồi khả năng vận động khi các biện pháp điều trị khác không làm giảm được triệu chứng.
Phòng bệnh
Do chưa rõ nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố di truyền có đóng vai trò, nên gần như không thể làm được gì để phòng ngừa. Tuy nhiên phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự tàn phế.

TRIỆU TRỨNG CỦA BỆNH VIÊM KHỚP VẨY NẾN



Dấu hiệu và triệu chứng
Viêm khớp vảy nên có thể xảy ra ở một hoặc nhiều khớp. Các dấu hiệu và triệu chứng cơ bản của viêm khớp vảy nến là khớp sưng, nóng, đỏ và đau xảy ra trên người đã có chẩn đoán bị bệnh vảy nến.
Các kiểu đau khớp trong viêm khớp vảy nến:
  • Đau khớp ở một bên cơ thể: Chỉ ảnh hưởng đến các khớp ở một bên của cơ thể hoặc các khớp khác nhau ở mỗi bên – bao gồm khớp háng, khớp gối, cổ chân hoặc cổ tay. Sưng và viêm có thể làm cho đầu ngón chân ngón tay có hình dùi trống.
  • Đau khớp ở cả hai bên cơ thể: Viêm khớp vảy nến đối xứng thường tác động đến 4 hoặc nhiều khớp cùng tên ở cả hai bên. Hay gặp ở phụ nữ hơn ở nam giới và bệnh vảy nến thường nặng hơn.
  • Đau các khớp ngón tay: Viêm khớp vảy nến chủ yếu gây đau các khớp liên đốt xa ít gặp và thường xảy ra ở nam giới.
  • Đau cột sống: Viêm cột sống vảy nến có thể gây cứng và viêm ở cột sống cổ, thắt lưng hoặc khớp cùng chậu. Viêm cũng có thể xảy ra ở gân và dây chằng ở cột sống.
  • Viêm khớp phá huỷ: Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân viêm khớp vảy nến bị viêm khớp biến dạng,. Bệnh phá huỷ các xương nhỏ ở bàn tay, nấht là ngòn tay, dẫn đến biến dạng và tàn phế vĩnh viễ

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM KHỚP VẨY NẾN



Nguyên nhân
Bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến là những bệnh tự miễn trong đó đáp ứng miễn dịch bất thường gây viêm khớp cũng như gây tăng sinh tế bào da. Chưa rõ lý do tại sao hệ miễn dịch lại có đáp ứng như vậy, nhưng có vẻ như cả yếu tố môi trường và di truyền đều có vai trò. Chấn thương hoặc nhiễm trùng có thể gây viêm khớp vảy nến ở những người đã có sẵn cơ địa di truyền dễ bị bệnh.
Xét nghiệm và chẩn đoán
  • X quang: giúp phát hiện những thay đổi ở khớp không xảy ra trong những bệnh khác.
  • Xét nghiệm dịch khớp: Có tinh thể acid uric trong dịch khớp cho thấy bệnh nhân bị bệnh gút chứ không phải viêm khớp vảy nến.
  • Tốc độ máu lắng: Tốc độ máu lắng tăng báo hiệu tình trạng viêm.
  • Yếu tố thấp (RF): Là một kahgns thể thường có trong máu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nhưng không có trong viêm khớp vảy nến.

HẬU QUẢ CỦA VIÊM KHỚP VẨY NẾN



Viêm khớp vảy nến
Bệnh vẩy nến, Viêm khớp vảy nến - một bệnh mạn tính tiến bộ của các khớp liên quan với bệnh vẩy nến.
Sự phổ biến của bệnh vẩy nến trong dân số là 2-3% và tỷ lệ mắc bệnh vẩy nến viêm khớp ở những bệnh nhân dao động 13,5-47%.
Các vẩy nến viêm khớp phổ biến nhất bắt đầu trong độ tuổi từ 20 đến 50 năm, với nam giới và phụ nữ đều có khả năng bị bệnh. Có những trường hợp của khóa học đặc biệt nghiêm trọng của bệnh viêm khớp vẩy nến ở nam giới trẻ tuổi ..
Nguyên nhân của bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến hiện vẫn chưa biết.
Phòng chống viêm khớp vảy nến đã không được phát triển do thiếu kiến thức về nguyên nhân của nó. Thực hiện cái gọi là phòng ngừa thứ cấp (tức là phòng chống suy thoái của bệnh nhân sau khi khởi bệnh), nhằm giữ những khả năng chức năng của khớp và làm chậm sự tiến triển của viêm khớp vảy nến.
Thông thường, biểu hiện của bệnh vẩy nến da trước sự phát triển của viêm khớp vảy nến (thường là nhiều năm), ít viêm khớp và bệnh vẩy nến da phát triển đồng thời. Trong trường hợp hiếm, viêm khớp xảy ra trước khi bệnh vẩy nến da.
Có những trường hợp khi bệnh vẩy nến da một thời gian dài được coi là viêm da dị ứng và viêm khớp vẩy nến - như viêm khớp phản ứng, trong đó cho thấy một điều trị hoàn toàn khác nhau. Đối với một giải thích chính xác của da và khớp biểu hiện, chẩn đoán đúng và điều trị thích hợp, tương ứng đòi hỏi một cuộc hẹn kiểm tra kỹ lưỡng của một chuyên gia - trị bệnh thấp khớp.
Đặc điểm tính năng của viêm khớp vảy nến - sự thất bại của metacarpophalangeal khớp của bàn tay và bàn chân, thường được kết hợp với các thiệt hại cho móng tay. Hơn nữa, trong viêm khớp vảy nến có thể bị ảnh hưởng đầu gối, mắt cá chân lumbosacral cột sống. Đôi khi có những cơn đau xung quanh gót chân và gân Achilles, đó là liên kết với các quá trình viêm trong lĩnh vực này.
Trong viêm khớp vảy nến có thể bị thay đổi viêm của mắt (viêm kết mạc, viêm màng bồ đào), và phổi (viêm phổi) tim, (carditis và viêm màng ngoài tim).
Trong một thử nghiệm lâm sàng cho máu có thể bị viêm khớp vảy nến tăng ESR. Trong phân tích sinh hóa - tăng Tiêu đề C-reactive protein. Giữa hoạt động và mức độ ngày càng tăng vẩy nến artita tốc độ lắng hồng cầu và protein C-raktivnogo thường quan sát thấy một sự tương quan trực tiếp.
Không giống như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến trong máu là yếu tố hiếm khi khớp dạng thấp - loại kháng thể đặc biệt. Sự có mặt / vắng mặt của yếu tố dạng thấp trong máu của bệnh nhân đôi khi được dùng trong chẩn đoán phân biệt (khi nó là cần thiết để phân biệt một loại viêm khớp của người khác).
Trong chẩn đoán cũng thường được sử dụng kiểm tra chụp ảnh phóng xạ của các khớp và cột sống. Trong viêm khớp vảy nến thường trên X quang tiết lộ những thay đổi đặc trưng.
Khi chẩn đoán của bác sĩ để đánh giá đúng cả hai tổn thương da và tổn thương khớp. Da vẩy nến cần phải differentsiirovat viêm da dị ứng và seborreynym và eczema với. Tổn thương vảy nến móng tay phải được phân biệt với nhiễm nấm. Sự thất bại của các khớp trong bệnh vẩy nến là đôi khi gợi nhớ của viêm khớp dạng thấp, gút, viêm khớp phản ứng.
Nếu có bất kỳ dấu hiệu của tổn thương khớp (sưng, đau, đỏ, vv) được thể hiện tư vấn trị bệnh thấp khớp.
Viêm khớp vảy nến là khá không thể chữa khỏi. Vì vậy, các mục tiêu của điều trị trong viêm khớp vảy nến:
- Giảm hoạt động của viêm ở các khớp và cột sống (mà sẽ để lại để giảm / biến mất của các triệu chứng của tổn thương khớp)
- Giảm các biểu hiện trên da của bệnh vẩy nến
- Sự ngăn chặn viêm nhiễm trong cơ quan nội tạng
- Làm chậm sự tiến triển của phá hủy khớp
- Duy trì chất lượng cuộc sống và sự tham gia của bệnh nhân
Thuốc:
 · Non-steroidal thuốc chống viêm (NSAID) được quy định để giảm các triệu chứng của viêm khớp (đau và sưng ở các khớp), diclofenac sodium ibuprofen,, nimesulide, vv
 ° glucocorticoid (prednisone, dexamethasone, vv) sử dụng với hoạt động viêm cao, thiếu hiệu quả của các NSAIDs, sự thất bại của các cơ quan nội tạng.
 ° Các thuốc chống viêm loại thuốc cơ bản được sử dụng để làm giảm / ức chế hoạt động và tiến triển của bệnh. Bổ nhiệm trong một thời gian dài (tháng, năm). Cùng với tính chất dược liệu cao có thể gây ra tác dụng phụ. Điều trị được thực hiện dưới sự giám sát y tế khắt khe. Chúng bao gồm methotrexate, cyclosporine, sulfasalazine, muối vàng, leflunomide, vv


ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP VẨY NẾN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÂY Y



Bệnh vảy nến là tình trạng viêm mạn tính của da do nhiều yếu tố tác động lên cơ chế bệnh sinh bao gồm yếu tố về gen, các yếu tố kích hoạt (vi khuẩn, virut, thuốc, stress...), hệ miễn dịch với vai trò của lympho T, các cytokine... gây ra tình trạng quá sản và rối loạn phát triển của tế bào sừng.
Bệnh chiếm tỷ lệ khoảng 2,5% dân số thế giới nhưng tỷ lệ cao hơn ở người châu Âu - Mỹ, thấp hơn ở người châu Á - Phi, trong đó thể bệnh trung bình và nặng chiếm khoảng gần 30%. Bệnh ít khi gây tử vong nhưng ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, khả năng sinh hoạt, lao động của người bệnh. 


Gần đây, với việc tìm ra nhiều yếu tố liên quan đến cơ chế sinh bệnh vảy nến, đặc biệt vai trò quan trọng của hệ miễn dịch với sự tham gia của tế bào lympho T đã tìm ra một hướng mới trong điều trị vảy nến, đó là các thuốc sinh học có tác dụng cắt đứt tương tác tế bào lympho T và các thành phần liên quan khác.

Điều trị bệnh vảy nến bằng các chế phẩm sinh học nhằm ngăn chặn quá trình di chuyển của tế bào trình diện kháng nguyên tới hạch bạch huyết, hoặc ngăn lympho T hoạt hóa, hoặc cản trở quá trình tương tác giữa tế bào lympho T và APC... theo cơ chế miễn dịch ở trên. 

Thuốc sinh học (biological drugs) là các thành phần của cơ thể sống hoặc là sản phẩm tạo ra từ cơ thể sống được sử dụng để phòng ngừa hoặc điều trị bệnh. Có 5 chế phẩm sinh học chính sau đây được Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận để điều trị vảy nến là efalizumab, alefacept, etanercept, infliximab và adalimumab.

Efalizumab (raptiva) là một kháng thể đơn dòng tái tổ hợp từ IgG1 của người, được FDA chứng nhận vào năm 2003 để điều trị vảy nến thể mảng vừa và nặng, dai dẳng, và khuyến cáo dùng cho các trường hợp không dùng được các thuốc điều trị vảy nến nhóm kháng TNF alpha. Thuốc không có chỉ định cho vảy nến thể khớp vì ít có tác dụng so với các thuốc sinh học khác.

Khi dùng thuốc này, thông thường bệnh sẽ đáp ứng ở tuần thứ 4-8. Các trường hợp không đáp ứng dễ xảy ra hiện tượng bùng phát trở lại, do vậy không tiếp tục dùng nếu trong vòng 12 tuần mà không đạt được kết quả điều trị. Tuy nhiên thuốc có thể gây đau đầu, mệt mỏi, sốt, lạnh run, tăng men Alkaline phosphatase, nhiễm khuẩn, nhưng nghiêm trọng nhất là giảm tiểu cầu. 

Ngoài ra có thể gặp hiện tượng vảy nến bùng phát trong tuần điều trị thứ 6 - 12 hoặc tái bùng phát khi dừng thuốc. Một số trường hợp u ác tính, tăng sản bạch cầu và nhiễm trùng cơ hội cũng đã được báo cáo ở bệnh nhân vảy nến điều trị bằng efalizumab. Không dùng trong các trường hợp mẫn cảm với thuốc, có thai. Lưu ý với người già, suy giảm miễn dịch, giảm tiểu cầu, dùng vaccin sống, đang bị các bệnh nhiễm trùng.

Alefacept (amevive) được FDA chấp thuận vào năm 2003. Đây là thuốc đầu tiên trong nhóm có nguồn gốc sinh học được công nhận điều trị vảy nến với hiệu quả kéo dài.

Tác dụng phụ thông thường có thể gặp: đau đầu, ngứa, viêm mũi - họng, tăng nguy cơ nhiễm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp trên. Các tác dụng phụ nghiêm trọng gồm: giảm bạch cầu, nhiễm trùng nặng, suy chức năng gan (do nhiễm virut viêm gan), bệnh ác tính... tuy nhiên rất hiếm gặp.

Chống chỉ định cho những trường hợp mẫn cảm với thuốc, người có HIV, thận trọng với người đang mắc các bệnh nhiễm trùng, dùng vaccin sống, có tiền sử các bệnh ác tính, phụ nữ có thai.

Etanercept được FDA chấp thuận điều trị vảy nến mảng vừa và nặng từ năm 2004. Thuốc này còn được dùng điều trị thấp khớp, vảy nến thể khớp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên tiến triển.

Trước khi dùng thuốc nên xét nghiệm công thức máu, máu lắng, ure, creatinin máu, men gan, Xquang ngực, virut viêm gan C và kiểm tra lại sau 3 tháng điều trị.

Tác dụng phụ thường gặp là: phản ứng tại chỗ, ho, nhức đầu. Các tác dụng phụ nặng hơn có thể gặp như nhiễm trùng nặng, thiếu máu, giảm bạch cầu, bệnh bạch cầu ác tính, suy tim tiến triển...

Infliximab được FDA chấp thuận điều trị vảy nến mảng dai dẳng vừa và nặng từ năm 2006. Ngoài ra còn được điều trị trong viêm khớp dạng thấp, bệnh Crohn, viêm cột sống dính khớp, vảy nến thể khớp. Do tác dụng nhanh chóng nên infliximab được chỉ định trong các tình trạng cấp tính và cần cải thiện nhanh như đỏ da toàn thân, vảy nến thể mủ, vảy nến khớp.

Tác dụng phụ thường gặp là nhức đầu, ngứa ngáy, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Hiện tượng xuất hiện kháng thể kháng infliximab cũng gặp và làm giảm hiệu lực của thuốc. Nghiêm trọng là biểu hiện vượng phát suy tim, bệnh lao, nấm, viêm gan, hội chứng giả lupus... Cần ngưng điều trị bằng infliximab nếu men gan tăng từ 5 lần trở lên.

Chống chỉ định trong các trường hợp mẫn cảm với các thành phần của thuốc, suy tim tiến triển độ 3 - 4. Thận trọng với phụ nữ có thai.

Adalimumab được FDA chấp thuận từ đầu năm 2008. Chỉ định điều trị tương tự như infliximab. Các xét nghiệm khuyến cáo nên làm là Xquang, công thức máu, chức năng gan, viêm gan B, b- HCG. Tác dụng phụ bao gồm phản ứng tại chỗ tiêm, đau đầu, viêm mũi - họng, viêm đường hô hấp, tăng triglycerid, mệt mỏi. 

Các biểu hiện có thể gặp là nguy cơ nhiễm trùng nặng, nhiễm lao hoặc tái bùng phát, nhiễm nấm, hội chứng giả lupus, nguy cơ bệnh ác tính, thiếu máu. Cần thận trọng với các trường hợp có bệnh tim mạch, mang thai.

Như vậy thế hệ của các loại thuốc sinh học đang được ứng dụng và còn tiếp tục được nghiên cứu, phát triển để điều trị hiệu quả nhiều bệnh có liên quan đến cơ chế miễn dịch trong đó có bệnh vảy nến nhằm đạt hiệu quả cao hơn, giảm tác dụng phụ, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Theo Sức khỏe và Đời sống